Hoàng bá dùng làm thuốc kiện vị, chữa các chứng bệnh: nhiệt ly ỉa ra mũi, viêm ruột, ỉa đái ra máu, ỉa chảy, hoàng đản, tê bại, đau mắt đỏ, mụn lở ở lưỡi, hoặc lở ngứa ngoài da, trĩ loét, bỏng nước

1. Phellodendron chinense Schneid còn gọi là Hoàng bì thụ.
2. Phellodendron amurense Rupr. Còn gọi Hoàng nghiệt – Hoàng bá – Nguyên bá.
Đều thuộc họ Cam (Rutaceae)
Vỏ của 2 cây trên (Cortex Phellodendri) cạo sạch vỏ ngoài, phơi hay sấy khô.
Cây hoàng bá (Hoàng Nghiệt) là một cây to, cao tới 20 – 25m, vỏ cây bên ngoài màu tro nhạt, nứt nẻ, bên trong màu vàng tươi. Lá mọc đối, hình kép lông chim kẻ gồm 5 – 13 lá chét, lá chét hình trứng nhọn dài 5 – 15cm, mép nguyên. Hoa tự hình chùy tròn, hoa đơn tính, khác gốc, hoa nhỏ, màu vàng xanh. Quả mọng, đường kính độ 1cm, khi chín màu tím đen, trong chứa 5 hạt dẹt.
Cây được trồng ở một số địa phương nước ta. Dược liệu chủ yếu nhập từ Trung Quốc.
Hoàng bá chứa các alcaloid: berberin (1,4 – 4%), phellodendrin, một ít palmatin, obakunon, obakulacton. Ngoài ra còn có chất dính, chất nhựa.
Theo Đông y, hoàng bá vị đắng, tính lạnh, vào 2 kinh Thận, Bàng quang. Có tác dụng tả tướng hỏa (hỏa ở thận) trừ nhiệt thấp, tư âm, giải độc.
Dùng làm thuốc kiện vị, chữa các chứng bệnh: nhiệt ly ỉa ra mũi, viêm ruột, ỉa đái ra máu, ỉa chảy, hoàng đản, tê bại, đau mắt đỏ, mụn lở ở lưỡi, hoặc lở ngứa ngoài da, trĩ loét, bỏng nước, bỏng lửa, phụ nữ xích bạch đới (khí hư).
Liều dùng: 4,5 – 9g, sắc uống hoặc chế thành viên uống.