Cây hoắc hương dùng chữa các chứng bệnh: nôn, mửa, ỉa chảy, đau quặn bụng, tức ngực.

Pogostemon cablin (Blan – co) Benth
Quảng hoắc hương (TQ)
Lá của hoắc hương đã chế biến khô (Folium Pogostemonis).
Cây hoắc hương là một cây cỏ sống lâu năm, thân thẳng có phân nhánh, cao 30 – 60cm thân lá đều có lông. Lá mọc đối chéo chữ thập, phiến hình trứng, dài 5 – 10cm, rộng 2,5 – 7cm, mép có răng cưa, mặt dưới có nhiều lông hơn. Lá vò có mùi thơm. Hoa tự mọc thành bông ở kẽ lá hay đầu cành. Hoa màu hồng tím nhạt.
Cây được trồng ở nhiều địa phương nước ta.
Cả cây hoắc hương chứa 0,5 – 0,6% tinh dầu thơm, trong đó chủ yếu là chất Patchouli alcohol, ngoài ra còn có các chất aldehyd cinnamic, pogostol,azulen, Aldehyd benzoic, eugenol.
Theo Đông y, hoắc hương vị cay, tính hơi ấm, vào 3 kinh: Phế, Tỳ, Vị. Có tác dụng làm nhẹ người, điều hòa bộ máy tiêu hóa, chữa nôn mửa, ỉa chảy, tức ngực.
Lá hoắc hương có tác dụng phát tán (làm ra mồ hôi).
Thân hoắc hương có tác dụng khoan hung (làm dễ thở, đỡ tức ngực).
Dùng chữa các chứng bệnh: nôn, mửa, ỉa chảy, đau quặn bụng, tức ngực.
Liều dùng: 5 – 10g hãm, sắc hay tán thành bột uống.