Cây hòe dùng trong trường hợp huyết áp tăng, đề phòng đứt mạch máu não, xuất huyết cấp tính do viêm thận, xuất huyết ở phổi.
Sophora japonica L. ,
1. Nụ hoa hòe chưa nở (Flos Sophorae immaturus), gọi là Hòe mễ (TQ)
2. Nụ hoa hòe sắp nở (Flos Sophorae), gọi là Hòe hoa (TQ)
3. Quả hoa hòe (Fructs Sophorae), gọi là hòe giác (TQ)
Cây hòe là một cây nhỡ, cao độ 6 – 10m, quanh năm xanh tươi, sống lâu năm, có thể tới hàng trăm năm. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, mỗi lá có 7 -17 lá chét. Sau độ 3 năm thì có hoa. Hoa nhỏ, mọc thành chùm ở đầu cành, hoa hình cánh bướm, mày vàng sáng. Quả loại đậu thành từng chuỗi thắt ở giữa các hạt, chưa 1 – 4 hạt.
Cây hòe được trồng nhiều ở các tỉnh Thái Bình, Bắc Giang.
Flavonoid, chủ yếu là rutin (hơn 20% trong Hoè hoa).
1. Hòe hoa theo Đông y, vị đắng tính bình vào 2 kinh : Cam, Đại trường. Có tác dụng làm mát máu thanh nhiệt, cầm máu.
Dùng chữa các chứng bệnh nôn ra máu, chảy máu cam, ly ra máy mũi, trĩ, ra máu, phụ nữ băng huyết, đau mắt đỏ. Còn dùng trong trường hợp huyết áp tăng, đề phòng đứt mạch máu não, xuất huyết cấp tính do viêm thận, xuất huyết ở phổi.
Liều dùng : 4,5 – 9g, hãm, sắc uống.
2. Hòe giác theo Đông y vị đắng, tính hơi lạnh, vào kinh cam.
Có tác dụng trừ phòng nhiệt, mát đại trường, nhuận gan. Hòe giác thiên về giáng hạ (đưa xuống) giúp đẻ dễ, có thể gây trụy thai. Dùng chữa các chứng bệnh viêm ruột ra máu (trường phong), trĩ loét ra máu, tim hồi hộp, chóng mặt muốn ngã đau, mắt đỏ, đẻ khó.
Liều dùng : 6 – 12g. Sắc uống.